Sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn huyết

Tin Tức Sức Khỏe

Nhiễm khuẩn huyết gây ra bệnh cảnh lâm sàng nặng nề, việc điều trị ảnh hưởng rất lớn đến sự sống của người bệnh.

Nguyên tắc điều trị:

Dùng kháng sinh sớm không đợi kết quả cấy máu

Dùng kháng sinh diệt khuẩn đường tiêm

Có thể phải kết hợp khác sinh

Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ khi có kết quả cấy máu.

Cân nhắc các loại kháng sinh, liều lượng, tác dụng phụ sao cho phù hợp với tình trạng của bệnh nhân như có kèm suy thận, suy gan, rối loạn đông máu.

Bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết phải được điều trị ở tuyến tỉnh trở lên vì vậy tại tuyến huyện  và tuyến xã tuyệt đối không được giữ bệnh nhân lại để điều trị khi nghi ngờ có nhiễm khuẩn huyết mà chỉ điều trị triệu chứng như hạ sốt, bù dịch và chuyển lên tuyến trên để điều trị.

Điều trị đặc hiệu bằng kháng sinh:

Các kháng sinh được sử dụng tùy theo nguyên nhân:

Nhiễm khuẩn huyết da thường do tụ cầu có thể dùng: Oxacillin tiêm tĩnh mạch với người lớn dùng 4-8 g trong một ngày chí 4 giờ một lần, với trẻ em liều dùng là 100-200 mg/kg/24 giờ chia 6 giờ một lần.

cephalosporin thế hệ I tiêm tĩnh mạch người lớn dùng 4-8 g cho một ngày, chia 4 giờ một lần, với trẻ em dùng 100-200 mg/kg/24 giờ chia 6 giờ một lần

tình trạng của bệnh nhân có thể sử dụng đơn độc hay phải kết hợp các loại kháng sinh trên với nhau hoặc phối hợp thêm với aminosid tiêm bắp.

vancomycin

Nhiễm khuẩn huyết nghi ngờ từ đường tiêu hóa hay đường tiết niệu thường do các vi khuẩn gram âm có thẻ sử dụng Fluoroquinolon, cephalosporin thế hệ 3, 4. Như ciprofloxacin 0,5 g x 2 lần/ ngày tiêm tĩnh mạch hoặc pefloxacin 400 mg x 2 lần/ngày hoặc norfloxacin 200 mg/ ngày, ceftriaxon 50-100 mg/kg/ ngày tiêm tĩnh mạch, cefotaxim 50-100 mg/kg/ngày tiêm tĩnh mạch

Nghi ngờ từ đường gan mật có thể sử dụng: cephalosporin thế hệ 3, 4 có thể kết hợp với metronidazol

Nghi ngờ vi khuẩn kị khí: ngoài các kháng sinh phổ rộng cần phối hợp metronidazol.

Tất cả các trường hợp trên sau 2-5 ngày điều trị, nếu tình trạng bệnh nhân không có sự cải thiện về lâm sàng, nên đổi kháng sinh điều trị phù hợp với kết quả của kháng sinh đồ. Nếu kết quả cấy máu vi khuẩn âm tính, quyết định đổi kháng sinh tùy theo vào tiến triển lâm sàng của bệnh nhân.

Thời gian điều trị kháng sinh thông thường từ 10-14 ngày, hoặc kéo dài hơn tùy thuộc vào ổ nhiễm trùng và căn nguyên gây bệnh. Chỉ ngừng kháng sinh sau khi bệnh nhân hết sốt, tình trạng toàn thân tốt lên và các chỉ số xét nghiệm trở về bình thường.

coppy ghi nguồn: http://drugsofcanada.com

link bài viết: Sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn huyết

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin Tức Sức Khỏe
Hormon insulin

Hormon insulin là mọt hormon duy nhất của cơ thể có tác dụng làm hạ đường máu. Insulin là một protein nhỏ, trọng lượng phân tử là 5808, cấu trúc hóa học gồm 2 chuỗi peptid A và B. chuỗi A gồm 21 a.a và chuỗi B gồm 30 a.a. …

Tin Tức Sức Khỏe
Xuất huyết do thiếu vitamin K

Xuất huyết là hội chứng với biểu hiện là máu thoát ra khỏi thành mạch máu do vỡ hoặc không vỡ mạch và thiếu vitamin K là một nguyên gây xuất huyết. Vitamin K là nhóm vitamin có khả năng hòa tan trong chất béo với 2 vai trò chính …

Tin Tức Sức Khỏe
Hiện tượng xuất huyết

Xuất huyết (Bleeding Disorders) là hội chứng biểu hiện tình trạng máu thoát ra khỏi thành mạch do vỡ mạch hoặc không do vỡ mạch. Nguyên nhân xuất huyết Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến  xuất huyết trong đó có:  Do thành mạch bị tổn thương Thiếu vitamin C,PP …